Mạn đàm về thiện và ác – Kỳ 1: Sự thật đằng sau cuộc chiến Lybia

0
70
Want create site? With Free visual composer you can do it easy.
Cách đây 3 năm, cái gọi là “mùa xuân Ả Rập” đã diễn ra hàng loạt tại các quốc gia Bắc Phi và Trung Đông như Tunisia, Algeria, Ai Cập, Yemen, Jordan, Syria, Libya và Maroc,.. Trong đó đáng chú ý nhất là các cuộc xung đột kéo dài thậm chí dẫn đến nội chiến và bất ổn chính trị kéo dài đến tận bây giờ như tại Lybia, Syria, Ai Cập. Thật ra, núp dưới các tên gọi mỹ miều khác nhau nhưng thực tế, các cuộc chính biến này và các cuộc cách mạng màu tại các nước thuộc khối Liên Xô cũ, Trung Á và vùng Balkan về bản chất là giống nhau: chúng được thiết kế, lên kế hoạch và kích hoạt bởi các “nhà thiết kế” cách “chiến trường” hàng ngàn ki lô mét và quan trọng là chẳng hề vì lợi ích của nhân dân các quốc gia đó. Các “cuộc cách mạng” đó sẽ mãi vẫn cứ tiếp tục diễn ra, như tình hình tại Ukraina hiện nay, chừng nào chính quyền tại các quốc gia trên thế giới chưa thực sự thuộc về nhân dân và quyền lợi của các đế quốc các nơi đó bị tổn hại. Về vấn đề này, xin giới thiệu với các bạn loạt bài “Mạn đàm về thiện và ác” rất hay của Lê Quang Trung, một cây viết trẻ tuổi nhưng già kiến thức. Loạt bài này viết trong thời điểm cuộc “cách mạng” đang tàn phá Lybia cách đây 3 năm nhưng hiện giờ vẫn còn nguyên giá trị thời sự, chính trị. Loạt bài bao gồm 3 kỳ như sau:

Mạn đàm về thiện và ác – Kỳ 1: Sự thật đằng sau cuộc chiến Libya – Tác giả: Lê Quang Trung

Tôi đã từng là một vichoco hay gọi một cách thực sự là Việt chó con, cũng đã từng là một trong những kẻ rân chủ giả tạo, vì khi đó tôi chẳng hiểu gì cả. Tôi luôn nghĩ CNXH là sai lầm, CNTB mới là con đường đúng đắn cho Việt Nam, bởi vì lúc đó tôi chẳng hiểu gì cả, tôi chỉ biết hàng ngày lên CNN, BBC để đọc tin, hay lên Google search những thông tin mà tôi cho là đúng đắn như Wikipedia.org.

Tôi cũng từng lớn tiếng chê bai Karl Marx, Engels hay Lenin là những người có đầu óc u tối đưa thế giới vào chiến tranh. Vì sao nhớ đến câu chuyện cái hang trong triết học Hy Lạp, ta biết rằng nếu một người ở trong cái hang đá quá lâu, khi lần đầu tiên tiếp xúc với mặt trời, anh ta sẽ nghĩ mặt trời là chúa.

Tôi cũng vậy, lần đầu tiên tiếp xúc với thông tin thế giới thì cho rằng thế giới nói gì cũng đúng, cũng luôn luôn đúng. Nhưng sự thật không phải như vậy, mặt trời chưa bao giờ là chúa và sẽ mãi mãi không bao giờ là chúa, đó chỉ thể hiện cho sự nhận thức một cách sai lầm của chính tôi.

Tính đến thời điểm này đã gần 7 năm qua, 7 năm đủ để thay đổi một con người. 7 năm để tiếp thu và học hỏi từ các học thuyết trên thế giới. 7 năm tuy không phải là dài nhưng cũng giúp cho tôi có thể hiểu mình đã sai, và tôi quyết định học lại, học lại từ đầu. Và sau 3 năm tôi đã thử tự mình nghiên cứu chủ nghĩa Marx Lenin, 4 năm nghiên cứu, không phải là dài, nhưng nó đủ để cho tôi thấy trí tuệ vĩ đại của Karl Marx cũng như các phân tích vô cùng chính xác của ông về chủ nghĩa tư bản, một sự phân tích mà đến bây giờ khi theo dõi cuộc chiến Lybia tôi phải giật mình về những tiên đoán thần kỳ của Marx. Nói cũng đã nhiều, ngày hôm nay tôi xin viết thật đầy đủ về chính cuộc chiến này dưới góc nhìn lăng kính của Karl Marx.

☭☭☭

1 – Trước hết, để có thể mang tính chính xác, tôi xin mượn 1 bài viết do Hà Duy Hiền cung cấp về sự thật đằng sau cuộc chiến Lybia khí nói về truyền thông: đó là 90% thông tin trên thế giới là do các tập đoàn truyền thông của Mỹ và phương Tây nắm giữ, vì vậy dù bạn có là sự thật, nhưng trái với lợi ích của các tập đoàn này thì thông tin hoàn toàn bị bẻ sai.

Những tên vichoco hay rân chủ giả tạo thường có 1 câu rất hay đó là phải có tự do báo chí thì báo chí mới đúng sự thật. Xin thưa là nếu có tự do báo chi, hay tự do truyền thông không có nghĩa bạn sẽ nhận được thông tin đúng sự thật, bởi lẽ nếu không có sự kiểm soát thì báo chí chính là công cụ tuyên truyền của những kẻ lắm tiền, có thể nói báo chí tự do trong phương Tây là thế nào, ta có thể thấy từ xưa đến nay những tờ báo thực sự vì người lao động, người cùng khổ như Nhật báo sông Ranh của Karl Marx hay Người Cùng Khổ của Nguyễn Ái Quốc, có mấy tờ báo trụ được lâu dài hay bị tiêu diệt sớm, dù có trụ được thì lượng thông tin đó đến được bao nhiêu% người dân khi nó luôn bị chính CNTB kiểm soát chặt chẽ.

Còn các tập đoàn báo chí truyền thông phương Tây lớn thì sao, nói cho cùng là công cụ phóng thanh cho đồng tiền, ai trả nó nhiều tiền thì nó đăng bài cho người đó, đôi lúc đó là chiến dịch của cây gậy và củ cà rốt. Súng và tiền là 2 thứ kiểm soát báo chí đa phần ở Phương Tây, sự kiểm soát này là sự kiểm soát của những giao dịch ngầm bởi đồng tiền.

Có thể rất nhiều Vichoco sẽ gân cổ lên cãi cùn rằng không phải, nhưng hãy xem nếu lượng thông tin theo đúng ý chính phủ phương Tây thì lợi nhuận của tờ báo đó là bao nhiêu, có thể bán được bao nhiêu so với các tờ báo có thông tin chống đối. Cái này không cần phải nói ai cũng biết, lợi nhuận và cạnh tranh chính là cái thỏa thuận ngầm mà không nhất thiết phải hiện ra nhưng đó cũng là sợi dây vô hình rang buộc chặt chẽ báo chí và truyền thông với giới chủ Tư Bản.

Có thể nói báo chí và truyền thông phương Tây khi phục vụ lợi ích của chính nó thì nói một cách tục tĩu không khác gì các em cave, chỉ yêu thích những anh nào lắm tiền và súng to (nên lưu ý là tôi nhấn mạnh đến báo chí và truyền thông chứ không phải nói đến nhà báo).

Cái gọi là tự do báo chí không bao giờ tồn tại trong CNTB bởi lẽ nó vốn đã và sẽ luôn bị ràng buộc bởi lợi nhuận và cạnh tranh. Vậy nên chỉ cần có tiền thì đúng như Karl Marx nói đến cả các di tích của Thánh cũng bị quy ra tiền hết. Thánh thần là gì đó tôn nghiêm mà con người ta hướng đến một đức hạnh và phẩm giá, nhưng hiện nay chỉ cần có tiền thì dù ông là quỷ tôi có thể đưa ông lên thành Thánh, còn nếu Thánh nghèo quá thì Thánh chịu khó làm quỷ đi.

Các bạn Vichoco vẫn luôn có giọng điệu là phải nhận thông tin từ nhiều chiều, nhưng như tôi đã nói ở đầu bài Thiện Ác và thị phi luôn rõ ràng, có chăng bạn phân biệt hay không là do bạn có trí tuệ hay không thôi. Người thời nay nhiều lúc thấy tiền mà mắt sáng, cái ánh sáng lấp lánh của đồng tiền làm ta lu mờ trước cái tiêu chuẩn của thiện và ác, Vậy nên có thể thấy rằng Thiện và Ác, thị phi điên đảo, đa phần người ta cho ác là thiện, cho thiện là ác, mà không hiểu rằng tiêu chuẩn thiện ác chưa từng sai biệt, có chăng là do nhận thức sai biệt của con người mà thôi.

2 – Giờ đây khi phân tích về cuộc chiến Lybia ta sẽ phân tích một cách kỹ càng qua 3 nhân tố chính. Nhân tố đầu tiên tôi muốn nói tới chính là nguyên nhân của cuộc chiến này. Thực ra cuộc chiến này là cuộc chiến không thể tránh khỏi, dù sớm hay muộn nó cũng nổ ra, vấn đề là nguyên nhân vì sao. Karl Marx đã từng viết rất rõ ràng: sau mỗi cuộc khủng hoảng sẽ là chiến tranh. Vì sao? Vì chiến tranh là công cụ để cướp bóc lại những gì đã mất sau khủng hoảng.

Nhìn lại cuộc chiến Lybia các bạn có thể thấy rõ thời điểm xảy ra cuộc chiến là năm nào: các Vichoco đừng bao giờ bảo trùng hợp ngẫu nhiên nhé. Hãy ngẫm kỹ mà xem, đại chiến thế giới thứ nhất năm 1914-1918 mà trước đó là cuộc khủng hoảng về chế độ bản vị tiền tệ trên thế giới năm 1914, đại chiến thế giới thứ hai thì sao nó bắt nguồn năm 1939 nhưng mà khởi nguồn lại là đại suy thoái 1929-1933, có lẽ ít ai biết rằng cuộc Đại suy thoái 1929-1933 là một cuộc khủng hoảng kép vì nó trải qua 2 giai đoạn, giai đoạn 1 từ năm 1929-1933 và giai đoạn 2 là giai đoạn khủng hoảng nợ công của chính phủ các quốc gia từ năm 1934 -1939 khi tình trạng ngân sách thâm hụt nặng nề do phải chi phí phí tổn quá lớn cho các cuộc khủng hoảng cũng như sự tràn ngập tiền giấy ở khắp nơi trên thế giới dẫn đến lạm phát cao tại hàng loạt các quốc gia như Đức, Anh, Mỹ.

Hãy cứ nhìn vào lịch sử sẽ thấy dù có thể không diễn ra ngay tức khắc nhưng đằng sau mỗi một cuộc chiến luôn là một sự xâm chiếm thuộc địa để lấy lại những gì đã mất trong mỗi cuộc khủng hoảng. Có lẽ nếu chỉ đưa ra dẫn chứng thì không đủ tính thuyết phục chúng ta sẽ đến với những phân tích của Karl Marx về chính cái mâu thuẫn trên:

Karl Marx cũng từng viết: khủng hoảng và lạm phát luôn là bạn đường của chủ nghĩa tư bản, vì sao nó khủng hoảng, điều này bắt nguồn chính từ sự dư thừa “tư bản” quá mức (tôi muốn nói đến đại lượng tư bản ở đây chứ không phải là nói về nhà tư bản, hay chủ nghĩa tư bản trong từ trên).

Việc mất cân bằng trong tư bản và lao động, sự hạn chế và mâu thuẫn của hệ thống tài chính mà Marx bảo chính những tư bản tài chính đã tạo nên một nền kinh tế tràn ngập các loại giấy tờ giả, đã làm suy sụp nền sản xuất góp một phần không nhỏ vào cuộc khủng hoảng trên toàn cầu.

Sự tràn ngập nó hay tư bản giả, cùng với chế độ tiền giấy đã làm cho lạm phát trở nên cao khủng khiếp, nó làm bay hơi không chỉ tiền lương của công nhân mà ngay cả những của cải tích trữ của chính họ cũng bị bay hơi một cách nhanh chóng trong chính tình trạng lạm phát cao như vậy.

Đối với thời của Marx hay trước năm 1944, thì chế độ bản vị vàng chính là cây đũa thần để cứu vớt người dân khỏi lạm phát và khủng hoảng, nó dẫn tới một sự đầu tranh giai cấp lên cao bằng việc biểu tình chống phá và sự phá sản của hàng loạt các nhà băng, các sở giao dịch tài chính để giai cấp vô sản có thể lấy lại số tài sản tích trữ dưới dạng vàng của họ trong các ngân hàng.

Sự phá sản này khiến cho ngay cả tư bản tài chính cũng phải run sợ, bởi vậy có thể nói chính chế độ bản vị là kẻ thù đáng sợ nhất của tư bản tài chính, và hàng bao năm qua, từ các lý thuyết kinh tế tư sản luôn có một mục tiêu đó là phá bỏ chế độ bản vị.

Vì chỉ khi chế độ bản vị bị xóa bỏ thì tư bản tài chính mới có thể bóc lột được thông qua lạm phát, mới có thể in tiền ra thoải mái để tự cứu chính mình trong mỗi một cuộc khủng hoảng (ở đây tôi chỉ mang tính chất giới thiệu qua về kinh tế Marx hay điểm xuyết một vài điểm chính, bạn nào muốn hiểu biết rõ hơn thì có thể liên lạc với chính tôi).

3 – Thế để tư bản có thể tự đào thoát khỏi mỗi cuộc khủng hoảng thì Marx đã chỉ ra rất rõ, đó là các chỉnh quyền tư bản không ngừng đưa tiền ra để giải cứu chính hệ thống tài chính của chúng. Câu hỏi ở đây là tiền này từ đâu mà có: đó chính là tiền do phát hành trái phiếu chính phủ của chính các chính phủ tư bản.

Ai cũng biết trái phiếu là một tờ giấy vay nợ của chính phủ, tờ giấy này được vay nợ thế nào, đó là chính phủ tư bản không ngừng phát hành ra trái phiếu chính phủ hay Marx còn gọi là công trái. Các công trái này được chính các ngân hàng trong chủ nghĩa tư bản mua lại và trả tiền cho chính phủ, sau đó hệ thống các ngân hàng này lại đem số công trái này lên chính ngân hàng trung ương quốc gia là cơ quan duy nhất có quyền phát hành tiền để thế chấp.

Ngân hàng trung ương quốc gia sẽ dựa trên số trái phiếu chính phủ mà bộ tài chính quốc gia in ra được thế chấp này để phát hành thêm tiền giấy bên cạnh số tiền giấy có sẵn được bản vị bằng vàng (theo Bank Act 1844 – hay đạo luật ngân hàng Anh 1844). Càng khủng hoảng nhiều thì số tiền mà chính phủ Tư Bản cần bơm vào các thị trường tài chính càng nhiều, nên số tiền vay càng lớn => dẫn đến lượng công trái càng nhiều.

Thậm chí đối với trong chính chủ nghĩa tư bản nhà nước. thì việc vay nợ này trở nên phổ biến đến mức các chính phủ Tư Bản lấy việc vay nợ lần sau để trả nợ cho lần trước, tức mỗi đợt phát hành trái phiếu sau luôn lớn hơn đợt trước rất nhiều để vừa trả nợ cho đợt trước lại vừa tiêu dùng cho chính phủ trong thời gian này.

Cái nguyên lý về các khoản nợ của chính phủ giống như nguyên lý quả tuyết lăn, càng lăn lại càng lớn, mà càng lớn thì lăn càng nhanh. Vậy nên Karl Marx đã viết:”Trong cái gọi là của cải quốc dân, phần duy nhất thuộc quyền sở hữu chung của các dân tộc hiện đại là quốc trái của họ. Vì vậy học thuyết hiện đại nói rằng một dân tộc càng nợ nần bao nhiêu thì càng giàu có bấy nhiêu, cũng là hoàn toàn nhất quán thôi. Tín dụng nhà nước trở thành cái tín điều của Tư bản. Và với sự xuất hiện của quốc trái, thì thay cho tội xúc phạm thần linh, một tội không thể nào tha thứ được, là tội vi phạm lòng tin với quốc trái.” (Trích Tư Bản tập 1 quyển số 2 trang 307) Hơn nữa theo Bank Act 1844 thì quốc trái chính là 1 trong 2 thứ cơ sở để phát hành tiền là quốc trái và vàng.

Nhưng hiện nay khi đã từ bỏ chế độ bản vị vàng thì sao, thì quốc trái chính là thứ duy nhất đại biểu cho tiền, quốc trái còn khả năng chi trả thì đồng tiền còn giá trị, quốc trái không còn khả năng chi trả thì đồng tiền mất giá trị. Đó là lý do vì sao đối với tư bản phương Tây hiện nay, đặc biệt khu vực đồng Euro đang lo sợ sự sụp đổ đồng Euro đơn giản bởi các nước Eurozone đang nằm ngập chìm trong khủng hoảng nợ công hay tức là quốc trái mất khả năng chi trả.

Điều này cũng diễn ra tương tự với Mỹ, và đó là sự lo sợ cho việc sụp đổ của đồng USD. Cho đến nay giới tài chính quốc tế đều biết rằng có 2 đồng tiền chủ chốt trên thế giới, đó là đồng USD và đồng EURO. Đồng USD chiếm 45% thị phần, đồng EURO chiếm 30%, mà quyền lợi của những quốc gia có đồng tiền quốc tế là gì: đơn giản theo Marx đó là cả thế giới phải dùng đồng tiền đó, điều đó có nghĩa là với Mỹ hay Pháp, Anh có đồng tiền quốc tế thì các quốc gia này có thể mặc sức in tiền để mua hàng hóa của nước khác thay vì phải lao động sản xuất vất vả để trao đổi hàng hóa.

Marx đã bảo đây là đỉnh cao trong mẫu thuẫn trao đổi, khi sự trao đổi không ngang giá được đẩy lên mức cao nhất trong nền kinh tế hàng hóa, ở đó công thức H-T-H không còn mà thay vào đó chỉ là T-H, ví như Mỹ một măt in tiền ra mua hàng của Trung Quốc, nhưng lại bảo Trung Quốc xuất siêu sang Mỹ phá hoại nền kinh tế Mỹ, đó là một kiểu bóc lột mà năm xưa Marx lấy ví dụ giống như các nước Tiểu Á phải cống nộp tiền sang La Mã rồi sau đó La Mã lại dùng tiền đó để mua lại hàng hóa các nước Tiểu Á.

Một sự bóc lột một cách trắng trợn, các bạn Vichoco hay rân chủ đừng bảo tôi bốc phét, nếu bất kỳ ai học kinh tế đều biết cán cân tài khoản vãng lai là đại diện cho sự tiêu dùng và sản xuất 1 quốc gia, nếu 1 quốc gia tiêu dùng nhiều hơn sản xuất thì tức là cán cân vãng lai luôn thâm hụt.

Để tìm hiểu về cán cân vãng lai của Mỹ hay một số nước EURO các bạn có thể tự lên IMF để lấy số liệu cho thấy sự thâm hụt nặng nề bao nhiêu năm nay của các nền kinh tế này. Anh em ai không lấy được số liệu có thể liên lạc với tôi để cung cấp số liệu cho anh em.

Chính vì vậy có thể nói trong thời đại không còn tiền bản vị thì việc duy trì một nền kinh tế có đồng tiền quốc tế do quốc gia có thể phát hành là một đặc quyền kinh tế của các quốc gia như Anh, Mỹ, Pháp, vì đặc quyền này họ có thể sẵn sàng chấp nhận gây nên chiến tranh, vì nếu không có đồng tiền quốc tế thì nền kinh tế này chưa bao giờ mạnh như ta nghĩ.

Có thể hiểu một cách đơn giản, nếu ngày đó đồng USD sụp đổ và được thay thế bằng đồng tiền bản vị vàng cho hệ thống tiền tệ quốc tế thì ngày đó cũng là ngày nền kinh tế Mỹ sẽ bước cả 2 chân của nó vào đại khủng hoảng với những khoản nợ khổng lồ bằng toàn bộ GDP của thế giới, hay dân Mỹ sẽ phải lao động thật chăm chỉ trong 10 năm mà không được quyền nhập khẩu bất kỳ một hàng hóa nào để có thể trả nợ cho thế giới.

4 – Cái tội nghi ngờ với quốc trái mà Marx nhắc đến ở trên chính là tội phá vỡ hệ thống tiền tệ của tư bản tài chính dựng lên là ở đây. Ở đây tôi sẽ lấy ví dụ là Mỹ là một ví dụ tiêu biểu cho các bạn cùng hiểu, để bảo vệ đồng USD Mỹ đã có những hành động như sau:

Ép Trung Quốc nâng giá đồng nhân dân tệ để phá vỡ hệ thống tiền tệ Trung Quốc (cái này đang nghiên cứu về tiền tệ theo học thuyết Marx nên chưa công bố, ai cần có thể liên hệ để được giải đáp kỹ hơn).

Mỹ đánh Iraq không phải vì Iraq có vũ khí hạt nhân hay vì Saddam Hussen độc tài, mà vì ông Hussen đã dám cả gan bán dầu mỏ cho các quốc gia khác mà không dùng đồng USD trong khi lại dùng đồng tiền vàng để thanh toán. Kể từ khi hệ thống Bretton Wood sụp đổ, Mỹ phá bỏ chế độ bản vị vàng thì để có thể duy trì hệ thống 1 đồng USD làm đồng tiền quốc tế Mỹ đã bám lấy cái gọi là dầu bản vị, tức là các giao dịch dầu mỏ bắt buộc phải tiến hành bằng USD. Đó là cách để các nền kinh tế khi muốn mua dầu mỏ thì phải có USD tức là tiếp tục phải dùng đồng tiền của Mỹ, do đó Mỹ bắt các nước Opec phải bán dầu bằng USD.

Có lẽ chỉ có 3 quốc gia trong Opec dám chống lại, đó là Iran, Iraq, và Lybia. Sau này khi tổng thống Chazed của Venezuela lên thì ông cũng muốn xóa bỏ hệ thống USD này nên Venezuela chính là nước thứ 4. Lybia cũng vậy, mong muốn của Gaddafi là xây dựng 1 hệ thống tiền tệ chung cho châu Phi mà thanh toán bằng những đồng dina vàng, hơn nữa năm 2010 chính Gaddafi đã yêu cầu điều tra lại chính vụ xử Saddam Hussen, đây chính là đã gãi vào chố đau của Mỹ, nên cuộc chiến Lybia sau Iraq là một điều tất yếu.

Điều này cũng giống như việc Marx đã nói về việc năm xưa Pháp xâm chiếm thuộc địa và bắt các nước thuộc địa phải dùng đồng France, hay Anh bắt các nước thuộc địa dùng đồng Bảng anh, thay vào đó các nước này sẽ phải đưa cho Anh và Pháp các mỏ vàng, bạc và tài nguyên của chính nước mình.

5 – Hãy xem lại vụ xử Dominique Strausskan, cựu tổng giám đốc IMF, Mỹ không ngần ngại đặt ra cái bẫy là tấn công tình dục. Vì sao? Có 2 lý do rất rõ ràng, ông Strausskan là một trong những người rất muốn thay hệ thống tiền tệ đồng USD trong lúc đang ở cương vị tổng giám đốc IMF.

Hơn nữa với tư cách là chủ tịch Đảng Xã Hội Pháp, một đảng theo chủ trương ôn hòa, không thân Mỹ thì việc hạ bệ Strausskan giống như 1 mũi tên bắn trúng 2 đích của Mỹ: thứ nhất vẫn có cơ hội lớn duy trì chính quyền Sarkozy là chính quyền thân Mỹ và hiếu chiến; thứ 2: là một lời răn đe cho những ai dám đụng đến hệ thống tiền tệ 1 đồng USD trong tiền tệ quốc tế của Mỹ.

Vậy nên vụ xử này kéo dài bao lâu: kéo dài qua 2 giai đoạn: giai đoạn 1 ép Strausskan từ chức tổng giám đốc IMF, và giai đoạn 2 là qua giai đoạn đăng ký tranh cử tổng thống Pháp. Xem xét và đối chiếu các vị có thể thấy rõ ràng các thời điểm này hoàn toàn trùng hợp, Strausskan được thả ngay khi thời điểm đăng ký tranh cử đã qua đi. Tội của Strausskan không phải là tội cưỡng hiếp mà thực sự đó là tội dám nghi ngờ quốc trái chính phủ.

6 – Giờ ta đến với phân tích thứ 3 của Karl Marx về chiến tranh sau khủng hoảng: Marx cho rằng việc khủng hoảng nợ công cao là nguyên nhân dẫn dến sự nghèo khổ của các dân tộc hiện đại: “Mặt khác việc tăng thuế do nợ nần ngày càng chồng chất mãi gây ra, lại buộc chính phủ phải đi vay thêm mãi mỗi khi có các khoản chi tiêu đặc biệt.Vì vậy chế độ thuế khóa hiện đại mà cái trục là thuế đánh vào những tư liệu sinh hoạt cần thiết nhất của nó đã mang trong mình nó cái mầm mống của sự tăng tăng thuế một cách tự phát. …Tác dụng to lớn của quốc trái và của chế độ thuế khóa tương ứng trong việc tư bản hóa của cải và việc tước đoạt quần chúng.” (Trích Tư Bản tập 1 quyển 2 trang 309). Ta có thể thấy hiện nay để thắt lưng buộc bụng không có gì hơn là tăng thuế, hơn nữa nếu càng đi vay thì chính các quốc trái ngày càng mất giá trị của nó do lượng quốc trái cung ra ngày càng nhiều, một khi quốc trái trở thành tờ giấy vụn thì đồng nghĩa với việc đồng tiền cũng không còn giá trị của nó.

Nhưng đánh thuế thế nào? Các nước Mỹ và Tây Âu đang vướng vào những cuộc khủng hoảng trầm trọng, chỉ cần biện pháp tăng thuế thôi sẽ khiến cho mâu thuẫn giai cấp ở đây được đẩy lên cao nhất. Đây là điều mà các chỉnh thể Tư Bản phương Tây và Mỹ lo sợ.

Vậy làm cách nào? Tăng thuế ở thuộc địa, và Lybia chính là mục tiêu đầu tiên. Mỹ và phương Tây càng muốn Lybia từ một nước độc lập trở thành thuộc địa của mình, vì nguồn tài nguyên dầu lửa của quốc gia này, hơn nữa đó cũng là cách để phá hoại các mối quan hệ kinh tế giữa Lybia và Trung Quốc, vì Trung Quốc là một nền kinh tế đang lên và đe dọa đến chính lợi ích tiền tệ của Mỹ. đánh Lybia cắt nguồn cung dầu cho Trung Quốc.

Cái này trong binh pháp gọi là kế rút củi đáy nồi mà. Khi có thuộc địa thì sẽ có các điều kiện sau: thứ nhất: thị trường mở rộng thêm, 2 là nguồn cung từ các khoản đầu tư trực tiếp của Mỹ vào thuộc địa mà ở đây là Lybia và dầu mỏ và sẽ thu được lợi nhuận khổng lồ từ các giếng dầu.

Nhất cử lưỡng tiện, vậy nên khi cuộc chiến còn chưa ngã ngũ ta đã thấy các tập đoàn dầu khí lớn nhất của Anh Pháp Mỹ xông vào xâu xé các giếng dầu ở đây, lợi nhuận cho doanh nghiệp tăng thì tự khắc nguồn thu thuế tăng mà không cần tăng thuế suất.

Tức là giờ đây thay vì dân Anh, Pháp Mỹ phải gánh chịu các khoản thuế cao để trả nợ cho chính phủ thì nó chuyển sang cho nhân dân Lybia. Đó là nguyên nhân chính của chính sách thực dân hóa mà Marx đề cập trong quyển Tư Bản, tài nguyên, nhân lực, thị trường và thuế khóa là những thứ một thuộc địa có thể cung cấp cho mẫu quốc.

7 – Cuối cùng điều tôi muốn nói lại trở về câu chuyện truyền thông. Giờ Gaddafi đã chết, ông chết vì không muốn 2 tay dâng những giếng dầu lên cho Mỹ và phương Tây. Và cổ nhân một lần nữa lại dạy rất đúng, người đã chết rồi thì nhét vào miệng họ cái gì họ cũng phải chịu. Cãi nhau với người chết là cãi nhau luôn thắng lợi vì người chết không cãi lại được.

Tôi thấy nực cười khi một số báo chí bảo ngân hàng trung ương Lybia đang giữ 150 tấn vàng của Gaddafi, hình như chính báo chí không hiểu kinh tế hay cố tình không hiểu, ngân hàng trung ương giữ vàng là bình thường, vì đó là tài sản dự trữ quốc gia, 150 tấn đó là để làm gì, để thực hiện bản vị, để đầu tư cho y tế, giáo dục và phúc lợi xã hội của Lybia chứ không phải của riêng Gaddafi, nhưng vì ngân hàng trung ương của chính quyền cũ, nên gán luôn cho cái mác của Gaddafi.

Nếu nói thế thì Obama đang giữ 8000 tấn vàng đó, vì cục dự trữ liên bang Mỹ có 8000 tấn mà, sao không phong tỏa và cướp đi, Sarkozy có 2500 tấn đó. Một sự kém hiểu biết hay không hiểu biết của giới truyền thông đây về kinh tế, cái thông tin đó có thể lòe bịp một số người, nhưng trong con mắt những người học Marx, đấy chỉ là một sự dối trá và ngu dốt.

Giờ lại thêm Gaddafi đang giữ tài sản 200 tỷ USD, xin nói thẳng giữ dưới dạng gì, bất động sản à, Gaddafi có bất động sản trong nước chăng, chẳng còn gì vì chẳng thấy ngôi nhà nào cả, đất đai ở Lybia là quốc hữu hóa thuộc về toàn dân. Vàng chăng, 200 tỷ USD với giá vàng hiện nay là 4000 tấn đó, bằng 1 nửa số vàng Fed đang nắm giữ, 4000 tấn thì với thể tích của vàng có thể lên đến bao nhiêu m3, chắc chắn không phải là nhỏ.

Sao tìm mãi ở ngân hàng trung ương Lybia hay dinh thự Gaddafi không thấy có, nếu là đôla giấy thì sao, thì thể tích lại càng lớn, nếu chỉ dùng các tờ 100 USD thôi cũng đủ trải kín mấy cái sân vận động rồi. Nếu là tài khoản ngân hàng thì sao, gửi trong nước sao không tìm ra được khi NTC đã chiếm được hệ thống ngân hàng.

Gửi nước ngoài, bất kỳ ai học kinh tế đều biết hệ thống ngân hàng thế giới 100% thuộc về Mỹ và phương Tây, vậy sao không tìm thấy tài khoản đó để phong tỏa, dù là có đứng tên người khác thì vẫn có thể tìm thấy qua giao dịch mà. Hay lúc này đây Mỹ và Nato còn đang bận ngụy tạo sổ tiết kiệm giả cho Gaddafi nên chưa công bố, đợi ngụy tạo xong mới công bố, với công nghệ điện tử hiện nay thì 1 số tiền lớn như 200 tỷ USD chỉ cần trong 1 ngày có thể tìm ra hết số tài khoản.

Vậy 200 tỷ USD đó đi đâu, trên Dân Trí khi đăng bài còn đặt dấu hỏi là có thể chuyển sang Zimbabue(!?) Nực cười và thật nực cười chắc là 200 tỷ đôla Zimbabue chứ không phải 200 tỷ đô USD thì tôi còn tin, bởi lẽ Zimbabue là nước thâm hụt cán cân thanh toán lấy đâu ra ngoại tệ. Mà với 200 tỷ đola Zimabue thì ở đó Gaddafi đủ mua 1 cái bánh mỳ, hơn nữa việc chuyển tiền ra nước ngoài đều bị kiểm soát chặt chẽ bởi hệ thống ngân hàng Mỹ và phương Tây cơ mà, tại sao lại không có.

Vậy nên bảo Gaddafi đầu tư vào bất động sản ở nước ngoài ư, lại càng không thể khi không thể chuyển tiền được hoặc bị kiểm soát. Cuối cùng còn 1 giả thuyết nữa đó là Gaddafi ông đã mua 200 tỷ USD đó bằng quốc trái của Mỹ rồi, thế thì chính quyền Mỹ phải hoan hô ông và ủng hộ chứ, sao lại ném bom không thương tiếc bảo vệ dân thường ở Lybia thế?

Cái giọng điệu ném bom bảo vệ dân thường là sao đây: cứ ai cầm súng cho NTC đó là dân thường, dân thường nào ủng hộ Gaddafi hay chết vì bom đó là lính đánh thuê của Gaddafi. Giờ thì nói thế nào chẳng được vì có ai đủ thời gian đi kiểm tra hộ chiếu hay chứng minh thư của dân thường đâu. Một sự nói dối đầy ngu dốt, có dám chắc rằng NTC là toàn dân Lybia không, hay thực chất đó mới là lính đánh thuê bởi lẽ ngay trong cách truyền thông nay hoàn toàn có thể nói 2 chiều bởi tính chưa bao giờ chính xác của nó.

Bài viết hôm nay đã dài tôi xin kết thúc kỳ 1 ở đây, kỳ sau tôi xin viết về cái gọi là dân chủ thực sự: nền dân chủ xã hội chủ nghĩa./.
© Lê Quang Trung

Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.

FACEBOOK WORDPRESS

BÌNH LUẬN

Hãy nhập bình luận của bạn!
Nhập tên bạn tại đây