Vì sao Đảng ta kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin

0
79
Want create site? With Free visual composer you can do it easy.
Kể từ sau sự đổ vỡ của chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu, các nhà tư tưởng chống cộng, chống chủ nghĩa xã hội lại càng được dịp dấn tới, phê phán, đả kích chủ nghĩa Mác – Lênin hòng làm lung lay nền tảng tư tưởng của chúng ta và đẩy chúng ta đi chệch quỹ đạo của chủ nghĩa xã hội. Ở nước ta – không kể những người có tâm huyết nghiên cứu, muốn tìm tòi, xây dựng, nhưng có những nhận thức còn cần phải thảo luận – có một số ít người vì lý do nào đó cũng phụ họa với các luận điệu thù địch, công khai bài bác chủ nghĩa Mác – Lênin, phê phán việc Đảng ta kiên trì chủ nghĩa Mác – Lênin, lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa. Họ viết tài liệu này tài liệu nọ, tán phát, truyền tay nhau hoặc đưa ra nước ngoài nhờ các báo, đài, nhà xuất bản có khuynh hướng chống cộng công bố, tuyên truyền hộ. Họ đả kích chủ nghĩa Mác – Lênin, nhiều khi với lời lẽ rất hằn học, cay độc.

Từ chỗ phê phán chủ nghĩa Mác – Lênin, có người kết tội luôn Hồ Chí Minh, rằng ông Hồ du nhập chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam là một sai lầm, là nguyên nhân “đưa đất nước vào vòng tối tăm, trì trệ, đổ vỡ, nhục nhã, đau đớn” (?!). Từ đó họ lớn tiếng đòi Đảng ta “phải từ bỏ học thuyết Mác – Lênin trước khi còn chưa muộn”. Rằng “Đảng Cộng sản Việt Nam hơn ai hết và trước hết nên thằng thắn sám hối những sai lầm của Đảng”, “dũng cảm làm cuộc đổi mới chính trị toàn diện và triệt để”, “nếu Đảng Cộng sản Việt Nam cứ khăng khăng nếp cũ … sẽ rơi vào bất hạnh … chắc chắn sẽ sụp đổ và bị lịch sử nguyền rủa muôn đời” (!).

Ở đây thái độ chính trị của họ rất rõ ràng, sòng phẳng. Những ai lên tiếng bảo vệ chủ nghĩa Mác – Lênin liền bị họ chụp cho cái mũ “giáo điều, bảo thủ”, “nịnh bợ”, “giữ ghế”. Lãnh đạo uốn nắn thì họ la ầm lên rằng “đàn áp những người khác chính kiến”, “bóp nghẹt quyền dân chủ, quyền tự do tư tưởng”,… Có người còn hồ đồ nói rằng: sở dĩ Đảng ta kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin vì các cấp lãnh đạo của Đảng “bị cầm tù bởi những nguyên lý kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin”, hoặc vì “hoang mang, hốt hoảng” trước tình thế hiện nay, muốn “tự ổn định tâm lý”“để mị dân chúng” nên phải nói to lên những từ cách mạng (!).

Có phải thật thế không? Hãy gác sang một bên thái độ hung hăng và việc làm thiếu thiện chí của một số người, chúng ta đi thẳng vào một số luận điểm chính yếu mà có người nêu ra chung quanh vấn đề này.

1. Những người bài bác chủ nghĩa Mác – Lênin thường tìm cách phủ nhận tính khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin, cố chứng minh rằng Mác, Ăngghen, Lênin không phải là những nhà khoa học. Họ nói dựng đứng rằng “chủ nghĩa Mác chỉ là một thứ ý thức hệ hư ảo”, “một thứ nói dối có ý thức”, “những vở kịch giả hình”, “chưa đầy tính huyễn tưởng”, còn Lênin thì làm tăng sự huyễn tưởng ấy của Mác “lên hơn một lần“, rằng “Mác và Lênin là những nhà xã hội học duy tâm, siêu hình và không tưởng”, chủ nghĩa Mác – Lênin là “ảo tưởng”, “giả tưởng”!…

Đây rõ ràng là một luận điệu xuyên tạc Mác, Ăngghen, Lênin rất trắng trợn. Có lẽ từ trước tới nay chưa mấy ai dám nói liều đến như vậy, ngay cả những người chống Mác và Lênin điên cuồng nhất. Người ta có thể chê Mác ở điểm này hay điểm kia, có thể căm thù Mác, chống Mác đến quyết liệt vì Mác tuyên chiến với chế độ tư bản và bênh vực giai cấp cần lao, nhưng tuyệt nhiên không có ai có thể phủ nhận được Mác và Ăngghen là những nhà khoa học. Bởi trong thực tế, Mác và Ăngghen thật sự là những nhà khoa học vĩ đại và thiên tài, là những “bộ óc kỳ diệu” của nhân loại. Toàn bộ học thuyết của hai ông là kết quả của cả một quá trình nghiên cứu khoa học rất nghiêm túc, là những công trình khoa học đồ sộ, giải đáp được nhiều vấn đề mà nhân loại đặt ra. Kế thừa những trào lưu tư tưởng tốt đẹp nhất của loài người đến thế kỷ XIX (triết học cổ điển Đức, kinh tế chính trị học cổ điển Anh và chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp) và tổng kết thực tiễn trong thời đại mình, Mác và Ăngghen đã sáng tạo ra một học thuyết hoàn chỉnh, chặt chẽ và chính xác, trong đó tính chất khoa học rất cao, thống nhất với tinh thần cách mạng triệt để. Công lao vĩ đại của Mác và Ăngghen là ở chỗ:

Thứ nhất: Hai ông đã bảo vệ và phát triển học thuyết duy vật, sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, mở ra một bước ngoặt căn bản trong triết học, cung cấp cho loài người một cách nhìn mới mẻ, một vũ khí sắc bén để nhận thức và cải tạo thế giới. Chủ nghĩa duy vật lịch sử của Mác là mộ tthành quả vĩ đại của tư tưởng khoa học đã phát hiện ra tính quy luật của sự phát triển xã hội và tính tất yếu của sực huyển biến từ hình thái kinh tế – xã hội này sang hình thái kinh tế – xã hội khác cao hơn.

Thứ hai: Mác và Ăngghen đã dựa vào những thành tựu của kinh tế chính trị học cổ điển, tạo ra một học thuyết kinh tế mới, đem lại một cuộc cách mạng thực sự trong kinh tế chính trị học. Với việc tìm ra quy luật giá trị thặng dư, Mác đã phát hiện ra các phương thức bóc lột tư bản chủ nghĩa, luận chứng một cách có căn cứ khoa học về sự diệt vong tất yếu của chủ nghĩa tư bản và sự thắng lợi tất yếu của chủ nghĩa xã hội.

Thứ ba: Qua việc phân tích, mổ xẻ chủ nghĩa tư bản, hai ông đã phát hiện ra những quy luật vận động và phát triển của nó, trên cơ sở đó, dự báo về sự phát triển của xã hội tương lai, chỉ ra lực lượng xã hội có khả năng trở thành người sáng tạo xã hội mới là giai cấp công nhân do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Giai cấp công nhân phải tiến hành một cuộc đấu tranh cách mạng gian khổ để lật đổ chủ nghĩa tư bản. Đấu tranh giai cấp là động lực phát triển của xã hội có giai cấp. Vì vậy chủ nghĩa xã hội Mácxít là chủ nghĩa xã hội khoa học, khác hẳn chủ nghĩa xã hội không tưởng ở Pháp trước đó.

Ngay từ năm 1872, trên tạp chí Người truyền tin châu Âu số tháng 5-1872, nhà kinh tế học Nga I.I.Cauphôman đã nhận xét rằng: Mác là một người vô cùng hiện thực và biện chứng, hiện thực và biện chứng hơn bất cứ ai trong số những người đi trước ông. Bởi vì “khi chứng minh tính tất yếu của trật tự hiện thời, ông chứng minh luôn cả tính tất yếu của một trật tự khác mà trật tự hiện thời nhất thiết phải chuyển sang, dù người ta có nghĩ đến hay không nghĩ đến điều đó, dù người ta có ý thức hay không có ý thức về điều đó”.

Lênin đã nhận xét về bản chất của chủ nghĩa Mác như sau: “Sau khi nghiên cứu quy luật phát triển của xã hội loài người, Mác đã hiểu rằng chủ nghĩa tư bản phát triển tất nhiên sẽ đưa đến chủ nghĩa cộng sản và – đây là điều căn bản – khi chứng minh chân lý đó, Mác chỉ dựa trên việc nghiên cứu xã hội tư bản đó một cách chính xác nhất, tỉ mỉ nhất, sâu sắc nhất, nhờ việc nắm vững đầy đủ tất cả những cái mà khoa học trước đây cung cấp”. Ngay cả các nhà tư tưởng tư sản cũng rất trân trọng Mác, nghiên cứu Mác rất nghiêm túc, tỉ mỉ, và trong thực tế đã giúp chủ nghĩa tư bản điều chỉnh một số phương pháp, cách thức hoạt động của mình. Gần đây nhà triết học nổi tiếng người Pháp Giắc Đêriđa vẫn khẳng định: “Mác là nhà tư tưởng của thế kỷ XXI”. Vậy mà mấy nhà “thông thái” của chúng ta cứ khăng khăn bảo Mác là nhà duy tâm, huyễn tưởng!

Còn Lênin? Người nổi tiếng là nhà bác học và chiến sĩ đấu tranh cho tiến bộ xã hội, có ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển văn hóa và khoa học của thời đại. Lênin đã gắn liền khoa học và văn hóa với các lực lượng xã hội – chính trị tiên tiến của thế kỷ XX. Với tư cách là nhà bác học, Lênin đã cống hiến nhiều mặt, giải quyết nhiều vấn đề về triết học, kinh tế chính trị học, sử học, khoa học tự nhiên, logic học, luật học, xã hội học,… Lênin không chỉ vận dụng Mác mà còn bổ sung và phát triển Mác. Lênin đã làm việc say mê, miệt mài với một nghị lực phi thường và với một tinh thần khoa học nghiêm túc nhất (Để viết tác phẩm Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở Nga, Lênin đã phải đọc, nghiên cứu tới 583 cuốn sách). Lênin đặc biệt nhạy bén, sắc sảo trong tổng kết thực tiễn. Nhờ tổng kết thực tiễn mà Người viết được Chủ nghĩa đế quốc – giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản. Nhờ tổng kết thực tiễn mà Lênin thay đổi những nhận thức ban đầu về chủ nghĩa xã hội, đưa ra Chính sách kinh tế mới (NEP) nổi tiếng.v.v… Không phải ngẫu nhiên mà người cộng sản gọi chủ nghĩa Lênin “là chủ nghĩa Mác trong thời kỳ chủ nghĩa đế quốc và cách mạng vô sản”, ghép chủ nghĩa Lênin với chủ nghĩa Mác thành chủ nghĩa Mác – Lênin. Cũng không phải ngẫu nhiên mà học thuyết của Lênin có ảnh hưởng to lớn, sâu rộng trên thế giới đến như vậy. Theo số liệu thống kê của UNESCO, các tác phẩm của Lênin đã được dịch ra 120 thứ tiếng, được đọc nhiều nhất trên thế giới, hơn cả Tônxtôi, Sếchxpia, Bandắc,…

Tóm lại, chủ nghĩa Mác – Lênin là một khoa học, hơn nữa, là một khoa học biện chứng, hiện đại, khoa học về những quy luật phát triển chung nhất của tự nhiên và xã hội, về cách mạng của quần chúng bị áp bức và bóc lột, về thắng lợi của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác – Lênin chính là ở tính chân xác về khoa học, ở tính toàn diện, tính hệ thống, tính biện chứng của nó nhằm mục đích giải phóng người lao động, giải phóng xã hội khỏi mọi ách áp bức, bóc lột, mọi sự tha hóa, thực hiện một xã hội công bằng, nhân đạo.

Với linh hồn sống là phép biện chứng duy vật, với hòn đá tảng kinh tế là học thuyết giá trị thặng dư, với những phát kiến vĩ đại về chủ nghĩa duy vật lịch sử mà nội dung cơ bản là lý thuyết hình thái kinh tế – xã hội, vai trò lịch sử của giai cấp công nhân,… chủ nghĩa Mác – Lênin cho đến nay vẫn là đỉnh cao của trí tuệ loài người, là khoa học chính xác và hoàn bị, chưa có gì thay thế được. Cho dù có phải bổ sung, phát triển, hoàn thiện thêm (đây là điều tất yếu) thì những nội dung cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin trong điều kiện ngày nay vẫn đúng. Chủ nghĩa Mác – Lênin vẫn là vũ khí tinh thần của giai cấp công nhân và nhân dân lao động bị áp bức trên toàn thế giới trong cuộc đấu tranh để tự giải phóng mình. Cho dù có những kẻ cố tình bóp méo, xuyên tạc thì chủ nghĩa Mác – Lênin vẫn cứ là chủ nghĩa Mác – Lênin, vẫn có sức sống dẻo dai và giá trị bền vững, xanh tươi của nó.

Việc chủ nghĩa Mác – Lênin bị tấn công, xuyên tạc không có gì là khó hiểu cả. Người ta thâm thù, xuyên tạc từ lâu rồi, từ hơn 150 năm nay đối với chủ nghĩa Mác và gần 100 năm đối với chủ nghĩa Lênin. Chẳng những thế, người ta còn tìm mọi cách hòng bóp chết, tiêu diệt chủ nghĩa Mác – Lênin. Từ năm 1913, Lênin đã nói về chủ nghĩa Mác rằng: “Trong toàn thế giới văn minh, học thuyết của Mác đã gây ra sự cừu địch mạnh nhất và lòng căm thù trong toàn thể giới khoa học tư sản… Không thể trông mong có một thái độ nào khác thế được, vì trong một xã hội xây dựng trên đấu tranh giai cấp thì không thể có một khoa học xã hội “vô tư”… Mong đợi một khoa học vô tư trong một xã hội xây dựng trên chế độ nô lệ làm thuê là một sự ngây thơ khờ khạo” .

Việc các thế lực thù địch bài bác chủ nghĩa Mác – Lênin chỉ càng chứng tỏ tính đúng đắn, tính khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin, điều mà các nhà tư tưởng chống cộng rất lo sợ. Và cứ mỗi lần phải đấu tranh chống lại các trào lưu tư tưởng đối lập thì chủ nghĩa Mác – Lênin lại một lần nữa tỏ rõ sức sống mãnh liệt của mình. Chủ nghĩa Mác – Lênin chẳng những phải đấu tranh chống lại những quan điểm tư tưởng tư sản phản động mà còn phải đương đầu với những khuynh hướng sai lầm trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, như “chủ nghĩa xã hội Vương quốc Phổ” của phái Látxan ở Đức, chủ nghĩa xã hội tiểu tư sản của phái Pruđông ở Pháp và ở Bỉ, chủ nghĩa xã hội hữu khuynh của những người cộng sản Đức, chủ nghĩa vô chính phủ của phái Bacunin ở Nga, chủ nghĩa dân tộc tư sản trên các vấn đề chiến tranh và thuộc địa,… và ngày nay, là đủ các thứ “trào lưu”, như chúng ta đã biết.

Chủ nghĩa Mác – Lênin vẫn đang có sức hấp dẫn, chinh phục hàng tỉ con người trên hành tinh này bởi tính khoa học, tính cách mạng và tính nhân đạo sâu sắc của nó.

Đó là lý do rất quan trọng trả lời cho câu hỏi vì sao Đảng ta luôn kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, coi chủ nghĩa Mác – Lênin là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động cách mạng của Đảng.

2. Có ý kiến cho rằng việc du nhập chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam là nguyên nhân của mọi tai họa, đưa đất nước vào vòng tối tăm, trì trệ (?!).

Ý kiến này hoàn toàn sai lầm, vì nó không có căn cứ thậm chí đổi trắng thay đen, xuyên tạc lịch sử. Ai cũng biết, dân tộc ta có truyền thống yêu nước nồng nàn, và đây chính là nhân tố tạo nên sức mạnh kỳ diệu của dân tộc ta đánh thắng mọi thứ giặc ngoại xâm. Lòng yêu nước đó ở thời đại nào cũng có. Nhưng thực tế chỉ rõ rằng chỉ có ở thời đại Hồ Chí Minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, sức mạnh của dân tộc mới được nhân lên gấp bội, thắng lợi của nhân dân mới trọn vẹn hơn, toàn diện và triệt để hơn. Những người muốn hạ thấp hoặc phủ định vai trò lãnh đạo của Đảng và chủ nghĩa Mác – Lênin thường rêu rao rằng ngày xưa làm gì có Đảng, có chủ nghĩa Mác – Lênin mà dân tộc ta vẫn đánh thắng giặc ngoại xâm! Điều đó đúng nhưng chỉ đúng một nửa. Bởi họ quên rằng, chiến thắng giặc ngoại xâm rồi đất nước ta sẽ đi đến đâu, làm sao bảo đảm cho nhân dân thực sự được làm chủ, được cơm no áo ấm, thoát khỏi kiếp tôi đòi, đau khổ trong cảnh áp bức, bóc lột của giai cấp địa chủ phong kiến, làm sao thoát ra khỏi cái vòng luẩn quẩn của chế độ bóc lột? Vả chăng, ngay trong những cuộc kháng chiến chống giặc hồi trước, sức mạnh của dân tộc, của nhân dân không phải là không có những hạn chế nhất định. (Ở mỗi thời đại đều có những hạn chế lịch sử của nó). Trong thời kỳ chống Pháp trước khi có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, dân tộc ta có rất nhiều người con ưu tú, yêu nước cháy bỏng và có tinh thần anh dũng hy sinh vô cùng cao cả, như Nguyễn Trung Trực, Tống Duy Tân, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Thái Học,… Nhưng vì sao các phong trào và các cuộc khởi nghĩa đó đều thất bại? Đất nước trước ngày có Đảng “tình hình đen tối như không có đường ra”. Vì sao? Đó là vì thiếu một đường lối đúng. Suốt 70 năm đất nước bị khủng hoảng về đường lối cứu nước, giải phóng dân tộc. Chỉ từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lênin, Đảng ta tìm được con đường đi đúng, đáp ứng được nguyện vọng thiêng liêng của nhân dân, đất nước ta mới có cơ hội tiến hành giải phóng dân tộc một cách đúng đắn, cách mạng nước ta mới giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Có người lập luận rằng: mấy nước “con Rồng” ở quanh ta có theo chủ nghĩa Mác – Lênin đâu mà họ rất phát triển, kinh tế tăng trưởng nhanh, đời sống nhân dân được cải thiện! Đúng là trong thời đại cách mạng khoa học kỹ thuật ngày nay có những nước vượt lên phát triển rất nhanh. Nhưng mỗi nước có hoàn cảnh lịch sử cụ thể, không nên so sánh giản đơn, phiến diện. Vì sao trên thế giới có hàng trăm nước tư bản mà đến bây giờ cũng chỉ có mấy nước phát triển thôi, còn đa số vẫn rất ỳ ạch? Vì sao cùng tiến hành cải tổ, cải cách đổi mới mà có nước thành công, có nước không thành công? Việt Nam ta có hoàn cảnh địa lý và lịch sử cụ thể riêng. Thử hỏi ở đâu trên trái đất này như ở Việt Nam chỉ trong một thời gian ngắn mà phải đánh đuổi đủ thứ giặc ngoại xâm, toàn những loại sừng sỏ, đến bây giờ vẫn còn phải gánh chịu những hậu quả rất nặng nề: 1 triệu 100 nghìn liệt sĩ, 600 nghìn thương binh, 300 nghìn người mất tích (trong đó hầu hết là đảng viên và đoàn viên thanh niên cộng sản), gần 2 triệu dân thường bị giặc giết hại, 2 triệu người bị nhiễm chất độc,…? Và ở đâu trên trái đất này như ở Việt Nam chỉ trong một thời gian ngắn, nhân dân đã lập nên biết bao chiến công hiển hách? Đó là thắng lợi oanh liệt của Cách mạng tháng Tám 1945, chọc thủng một mắt khâu trong hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc. Đó là chiến thắng vang dội của 9 năm kháng chiến chống Pháp, đánh sập chủ nghĩa thực dân cũ. Đó là thắng lợi của 20 năm kháng chiến chống Mỹ, đánh rã chủ nghĩa thực dân mới, thống nhất đất nước, đưa nước nhà đi vào một kỷ nguyên mới – kỷ nguyên độc lập, tư do và chủ nghĩa xã hội.

Những năm đổi mới gần đây, trong hoàn cảnh thế giới có những diễn biến hết sức phức tạp, đất nước có nhiều khó khăn chồng chất, nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng đã tiến hành đổi mới có kết quả, đạt nhiều thành tựu to lớn và quan trọng. Đến nay tuy còn không ít khó khăn nhưng rõ ràng kinh tế nước ta có bước phát triển khá, nhịp độ tăng trưởng kinh tế GDP trên 7–8% một năm, chất lượng và hiệu quả ngày càng tiến bộ, đời sống đại bộ phận nhân dân được cải thiện, chính trị ổn định, quan hệ đối ngoại mở rộng. Đất nước đã ra khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế – xã hội và đang thực hiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, vươn ra hội nhập với khu vực và thế giới. Nước ta đã có quan hệ ngoại giao với 167 nước (trong đó có tất cả các cường quốc hàng đầu trên thế giới), có quan hệ thương mại với hơn 140 nước, quan hệ đầu tư với hơn 70 nước. Đến nay có 4.700 dự án đầu tư nước ngoài vào Việt Nam với số vốn đăng ký là 45 tỷ USD, trong đó 27 tỷ USD đã được thực hiện. Năm 2003, mặc dù bị thiên tai lũ lụt, cả nước vẫn thu hơn 27 triệu tấn lương thực, xuất khẩu được 3 triệu tấn gạo. Cái ăn, cái mặc, sự đi lại, học hành, phong tục, nếp sống của nhân dân tuy chưa phải đã được như mong muốn, nhưng so với trước đây đã có rất nhiều thay đổi. Cả nước đã hoàn thành việc xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học, số sinh viên đại học trong 10 năm tăng 6 lần; 83% số hộ nông dân sử dụng điện; 99% số xã có trạm y tế; 94% số xã có máy điện thoại,… Điện về đến cả những xã ở vùng sâu, vùng xa; điện thoại cầm tay xuống tận vùng sông nước Cà Mau, U Minh.

Những sự đổi thay nhanh chóng đó mỗi người dân bình thường đều cảm nhận được, bạn bè gần xa khích lệ, chia vui; ngay cả một số người đã từng “ở phía bên kia” cũng thật lòng thừa nhận . Vậy mà có người vẫn cố tình nhắm mắt nói liều, miêu tả xã hội Việt Nam hiện nay rất đen tối, xấu xa, tồi tệ. Họ cố tình quên rằng những kẻ gây ra tai họa cho dân tộc Việt Nam, gieo rắc sự nghèo đói và đau khổ cho nhân dân Việt Nam, không phải ai khác, đó chính là các đế quốc xâm lược, thực dân cướp nước và tay sai của chúng!

Đảng Cộng sản Việt Nam suốt hai phần ba thế kỷ qua cũng như hiện nay luôn luôn một lòng một dạ ngày đêm trăn trở, lo toan, phấn đấu hy sinh để cốt làm sao cho đất nước được hoàn toàn độc lập, nhân dân được ấm no, dân tộc vươn lên sánh vai với bạn bè năm châu. Chính nhờ được vũ trang bằng chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, kết hợp chặt chẽ với tinh hoa truyền thống dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại mà Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân ta giành được những thắng lợi vĩ đại, làm cho đất nớc ngày càng phát triển, lập nên nhiều kỳ tích trong hơn nửa thế kỷ qua. Đó là thực tế. Đó cũng là lý do giải thích vì sao Đảng ta kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin.

3. Có những người cho rằng, hiện nay Đảng Cộng sản Việt Nam thực tế đã từ bỏ chủ nghĩa Mác – Lênin, từ bỏ chủ nghĩa xã hội, nhưng “vì sĩ diện”, nên trên lời nói và trong văn bản chính thức Đảng cứ phải nói kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin (!). Một mặt, những người này đỏi đất nước ta phải “đổi mới triệt để, không nửa vời”, nghĩa là phải thực hiện “tư nhân hóa hoàn toàn”, “đa nguyên, đa đảng”; mặt khác, họ nói xiên nói vẹo rằng Đảng ta đã từ bỏ chủ nghĩa Mác – Lênin, rằng sự nghiệp đổi mới của chúng ta là “đầu Ngô mình Sở”, “không chính danh” (!).

Đây là những luận điệu vu cáo, võ đoán. Từ trước tới nay ai cũng biết, Đảng Cộng sản Việt Nam là một đảng Mác – Lênin chân chính. Đảng chẳng những kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin mà còn luôn luôn vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụa thể của nước ta. Đảng ta đã từ thực tiễn rút ra kết luận rằng, lúc nào xa rời chủ nghĩa Mác – Lênin hoặc giáo điều, rập khuôn thì chúng ta thất bại. Công cuộc đổi mới ngày nay sở dĩ thành công trước hết là do Đảng ta đổi mới tư duy lý luận, nhận thức đúng và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin. Đổi mới chính là trở về đúng với chủ nghĩa Mác – Lênin, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin. Trong cương lĩnh, đường lối, chính sách của Đảng đã thể hiện rất rõ tư tưởng này. Ở đây chỉ xin nêu vài ví dụ:

– Quán triệt và vận dụng quy luật mà Mác nên ra “quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất”. Đảng ta đã đề ra và lãnh đạo thực hiện chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, coi đây là vấn đề chiến lược lâu dài trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Trong kinh tế, thì kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng.

– Quán triệt và vận dụng Chính sách kinh tế mới (NEP) mà Lênin nêu ra, chúng ta đang mạnh dạn và chủ động sử dụng một cách rộng rãi các hình thức, phương pháp của chủ nghĩa tư bản nhà nước (bao gồm hình thức công tư hợp doanh, liên doanh, góp cổ phần, hợp tác, tổ nhượng,…) để xây dựng chủ nghĩa xã hội, coi đây là một chủ trương lớn xuyên suốt thời kỳ quá độ lên cnn chủ nghĩa xã hội.

– Chúng ta đang vận dụng và thực hiện các quy luật của sản xuất hàng hóa (bao gồm quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh, quy luật tái sản xuất mở rộng,..), vận dụng các loại thị trường (thị trường tư liệu tiêu dùng, thị trường tư liệu sản xuất, thị trường lao động, thì trường tiền tệ,..); kết hợp chặt chẽ kế hoạch với thị trường; kết hợp tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội; làm giàu chính đáng đi đôi với xóa đói giảm ngheo, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.

– Chúng ta đang vận dụng và giải quyết tốt các mối quan hệ giữa giai cấp và dân tộc, quốc gia và quốc tế, kinh tế và chính trị, nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp để từng bước tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc…

Phải chăng tất cả nhữgn việc làm đó là xa rời chủ nghĩa Mác – Lênin, hay chính là tuân thủ những nguyên tắc và tư tưởng của Mác – Lênin? Chủ nghĩa Mác – Lênin vẫn đang và sẽ là kim chỉ nam, là bó đuốc soi đường cho Đảng ta và nhân dân ta đi tới.

***

Kinh nghiệm cho thấy, nếu mơ hồ, dao động về hệ tư tưởng thì nhất định sẽ lúng túng trong chủ trương, đường lối, rối loan trong tổ chức, và tất nhiên dẫn đến thất bại trong hành động. Vì vậy Đảng ta đã nhiều lần khẳng định rằng kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là vấn đề có tính nguyên tắc đối với Đảng ta, là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong toàn bộ công tác tư tưởng – lý luận của chúng ta.

Đương nhiên, nói kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin không có nghĩa là rập khuôn, giáo điều mà phải sáng tạo, luôn luôn sáng tạo, sáng tạo mà không cực đoan, không rơi vào cơ hội, xét lại. Kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin là kiên định những nguyên tắc lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin, vận dụng và phát triển sáng tạo nó, chổng cả chủ nghĩa cơ hội, xét lại và chủ nghĩa giáo điều. Kiên định, bảo vệ phải đi đôi với vận dụng và phát triển sáng tạo. Phát triển sáng tạo là để bảo vệ một cách tốt nhất, khoa học nhất. Đảng ta đã nhiều lần nói rằng không nên coi lý luận của Mác và Lênin như một công thức cứng nhắc, như một cái gì đã xong xuôi và bất khả xâm phạm; trái lại, phải vận dụng sáng tạo và tiếp tục phát triển hơn nữa về mọi mặt. Đúng như Lênin đã nói: chúng ta không kỳ vọng rằng Mác hay những người theo chủ nghĩa Mác đều biết mọi mặt cụ thể của con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội. Như thế sẽ là phi lý. Chúng ta chỉ biết phương hướng của con đường đó; còn về cụ thể và trên thực tế con đường đó ra sao, thì kinh nghiệm của hàng triệu con người sẽ chỉ rõ, khi họ bắt tay vào hành động.

GSTS Nguyễn Phú Trọng
Trích “Vững bước trên đường đã chọn”
do Hội đồng lý luận Trung Ương biên soạn
xuất bản 2002, tái bản 2004, NXB Sự Thật

Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.

FACEBOOK WORDPRESS

BÌNH LUẬN

Hãy nhập bình luận của bạn!
Nhập tên bạn tại đây